Một số vấn đề trong thực tiễn khi áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Ngày đăng: 08:11 09/09/2019

Tạm giam là biện pháp ngăn chặn được quy định tại Điều 119 của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015. Đây là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc, hạn chế một số quyền cơ bản quan trọng của đối tượng bị áp dụng là bị can, bị cáo. Biện pháp ngăn chặn này đã được BLTTHS năm 2015 quy định rất chặt chẽ từ thẩm quyền, căn cứ áp dụng cũng như trình tự thủ tục áp dụng. Chính vì vậy,  trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự đặt ra yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng trong đó có các Tòa án luôn phải nắm chắc quy định của pháp luật và cân nhắc, lựa chọn để quyết định có áp dụng tạm giam đối với bị can, bị cáo hay không. 

Trụ sở Tòa án quân sự Khu vực 1 Quân khu 3.

Qua nghiên cứu quy định của BLTTHS năm 2015 và từ thực tiễn công tác xét xử kể từ khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực đến nay cho thấy: Quy định của BLTTHS năm 2015 về biện pháp ngăn chặn tạm giam đã được xây dựng hoàn thiện hơn so với quy định của BLTTHS năm 2003; tuy nhiên việc áp dụng quy định này vào thực tiễn còn gặp không ít bất cập, vướng mắc, cụ thể:

Một là, Theo quy định tại khoản 4 Điều 119 của BLTTHS năm 2015 thì không áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo thuộc những đối tượng đặc biệt cần khoan hồng như người già yếu, người bị bệnh nặng có lý lịch rõ ràng… trừ khi họ thuộc các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 4 Điều 119. 

          Quy định này đặt ra vấn đề hiểu thế nào là “người già yếu”, “người bị bệnh nặng”. Hiện nay chưa có văn bản của cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn như thế nào là “người già yếu”, “người bị bệnh nặng” mà mới chỉ có hướng dẫn về “người già” và người “mắc bệnh hiểm nghèo” (mục 2.4 mục 2 Nghị quyết 01/2006 và điểm a tiểu mục 2.1, mục 2 Nghị quyết 01/2007 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao).

Hai là, Theo quy định tại Điều 244 của BLTTHS năm 2015, đối với bị can bị tạm giam thì khi thời hạn tạm giam còn lại không quá 7 ngày, Viện kiểm sát phải thông báo cho Tòa án biết để xem xét, quyết định việc tạm giam bị can sau khi nhận hồ sơ vụ án. Quy định này nhằm để Tòa án có thời gian nghiên cứu  việc có tiếp tục tạm giam hay thay đổi biện pháp ngăn chặn đối với bị can trước khi thụ lý giải quyết vụ án. Tuy nhiên, luật chỉ quy định Viện kiểm sát có trách nhiệm thông báo nhưng không có quy định cung cấp các tài liệu cần thiết để Tòa nghiên cứu trước việc áp dụng hoặc thay đổi biện pháp ngăn chặn. Do đó, việc Tòa án có tiếp tục quyết định tạm giam bị can sau khi thụ lý vụ án hay không là chưa đủ căn cứ đảm bảo cho quyết định áp đúng đắn tạm giam bị can.

Ba là, Theo quy định tại khoản 2 Điều 329 của BLTTHS thì Hội đồng xét xử có thể ra quyết định bắt tạm giam bị cáo ngay tại phiên tòa nếu có căn cứ cho thấy bị cáo có thể trốn hoặc tiếp tục phạm tội. Nhưng vấn đề đặt ra là việc xác định như thế nào là có căn cứ bị cáo có thể trốn hoặc tiếp tục phạm tội. Căn cứ này có thể dựa vào đặc điểm nhân thân, tính cách, thái độ của bị cáo hay diễn biến, đặc điểm hoặc tính chất phức tạp tại phiên tòa. Do vậy, để có sự thống nhất nhận thức và áp dụng thì cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn thế nào là “có căn cứ bị cáo có thể trốn hoặc tiếp tục phạm tội”.

Bốn là, về tạm giam bị can, bị cáo đang chấp hành án: Trong vụ án có bị can đang chấp hành án trong một vụ án khác thì khi khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử cơ quan tiến hành tố tụng có phải ra quyết định tạm giam hay chỉ cần thu thập các quyết định liên quan đến thi hành án phạt tù của họ là đủ. Vấn đề này hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau: 

- Quan điểm thứ nhất cho rằng cơ quan tiến hành tố tụng không phải ra lệnh tạm giam nếu thời hạn chấp hành án phạt tù còn dài hơn thời gian điều tra, truy tố, xét xử. 

- Quan điểm khác cho rằng trường hợp này phải ra lệnh tạm giam mới, vì để tạo thuận lợi cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và các cơ quan tiến hành tố tụng độc lập và chủ động trong các hoạt động của mình; mặt khác, chế độ tạm giam chặt chẽ hơn chế độ cải tạo nên tránh được tình trạng bị cáo có ý định thông cung hoặc gây cản trở cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Mặc dù việc tạm giam là bất lợi cho bị cáo nhưng bị cáo là người có lỗi làm phát sinh hoạt động tố tụng nên phải gánh chịu hậu quả đó. Tuy nhiên, việc chấp hành hình phạt tù của họ sẽ gián đoạn, ảnh hưởng đến quyền được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù. 

Từ những vướng mắc, bất cập nêu trên, chúng tôi kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sớm nghiên cứu, ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng các nội dung sau đây:

- Thứ nhất, như thế nào là “người già yếu”, “người bị bệnh nặng” và như thế nào là “có căn cứ bị cáo có thể trốn hoặc tiếp tục phạm tội”.

- Thứ hai, để thực hiện quy định tại Điều 244 của BLTTHS năm 2015 về việc Viện kiểm sát phải thông báo cho Tòa án biết để xem xét, quyết định việc tạm giam bị can sau khi nhận hồ sơ vụ án; đề nghị các cơ quan có thẩm quyền ban hành thông tư liên tịch quy định cùng với việc thông báo cho Tòa án thì Viện kiểm sát phải cung cấp các tài liệu cần thiết làm căn cứ để Tòa án có thể quyết định tạm giam bị can đúng pháp luật sau khi thu lý vụ án;

- Thứ ba, đề nghị cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn áp dụng trường hợp bị can đang chấp hành án trong một vụ án khác thì khi khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Cơ quan tiến hành tố tụng có phải ra quyết định tạm giam bị can hay không?

Vũ Tuấn Dũng

Tòa án quân sự Khu vực 1 Quân khu 3

Thông báo