Một số vấn đề về Đương nhiên xóa án tích trong lĩnh vực Hình sự

Ngày đăng: 08:12 20/07/2019

Án tích là đặc điểm xấu (hậu quả) về nhân thân đối với người bị kết án theo một bản án hay quyết định của Tòa án. Do vậy, nếu được xóa án tích thì người đó sẽ được coi như chưa bị kết án. Đây là một chế định thể hiện tính nhân đạo và nguyên tắc công bằng dân chủ, tôn trọng, bảo vệ quyền con người trong pháp luật hình sự Việt Nam, khuyến khích người phạm tội tuân thủ pháp luật sau khi chấp hành xong bản án, tạo điều kiện cho người phạm tội làm lại cuộc đời, nhanh chóng tái hòa nhập cộng đồng. Với ý nghĩa quan trọng như vậy, chế định này đã được Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 sửa đổi, bổ sung các quy định cho người bị kết án theo hướng có lợi, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho họ và ngoài ra còn được ghi nhận trong một số nội dung của Luật Lý lịch tư pháp (LLTP) năm 2009.

Cán bộ và nhân viên Tòa án quân sự Khu vực 1 Quân khu 3 thảo luận về nghiệp vụ.

Theo đó, xóa án tích gồm có 03 trường hợp, đó là người bị kết án được đương nhiên xoá án tích, xóa án tích theo quyết định của Tòa án và xóa án tích trong trường hợp đặc biệt. Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ đề cập đến vấn đề “đương nhiên được xóa án tích”, cụ thể như sau:

Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của BLHS năm 2015 khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 70 BLHS năm 2015.

Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

- 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;

- 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;

- 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

- 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b, c nêu trên thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn trên. Cơ quan quản lý dữ liệu LLTP có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu, thì cấp phiếu LLTP xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 70 BLHS năm 2015. Cụ thể hơn, Điều 33 Luật LLTP năm 2009 quy định Trung tâm LLTP quốc gia, Sở Tư pháp có nhiệm vụ cập nhật, xử lý thông tin LLTP trong trường hợp này.

Ngoài ra, trường hợp người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì đương nhiên xóa án tích nếu trong thời hạn 03 năm tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới.

So sánh với BLHS năm 1999, quy định Tòa án là cơ quan cấp giấy chứng nhận xóa án tích cho người bị kết án thì hiện nay, theo quy định của BLHS năm 2015, Tòa án chỉ cấp giấy chứng nhận xóa án tích cho các trường hợp người bị kết án về các tội được quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của BLHS năm 2015 về các tội phá hoại hòa bình, chống loài người, tội phạm chiến tranh và xâm phạm an ninh quốc gia, còn lại các tội khác giao trách nhiệm cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP. Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 369 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng có quy định: “Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của người được đương nhiên xóa án tích và xét thấy có đủ điều kiện quy định tại Điều 70 Bộ luật Hình sự thì cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP cấp Phiếu LLTP là họ không có án tích”. Về thời hạn xóa án tích, BLHS năm 2015 quy định thời hạn xóa án tích trong trường hợp đương nhiên được xóa án tích căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên và theo hướng rút ngắn thời hạn, có lợi hơn cho người phạm tội so với BLHS năm 1999. 

Một điểm mới nổi bật nữa của BLHS năm 2015 đó là quy định vấn đề xóa án tích đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Theo đó, Điều 89 BLHS năm 2015 quy định: “Pháp nhân thương mại bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu trong thời hạn 02 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà pháp nhân thương mại không thực hiện hành vi phạm tội mới”. Như vậy, thời hạn xóa án tích đối với pháp nhân thương mại bị kết án trong mọi trường hợp đều là 02 năm, không phân biệt là loại hình phạt chính và mức hình phạt chính áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội. 

Tuy nhiên, bên cạnh những sửa đổi tích cực của BLHS năm 2015 về đương nhiên xóa án tích thì vẫn còn tồn tại một số hạn chế, bất cập trong quy định này như sau:

Thứ nhất, quy định tại BLHS năm 2015 đã giao thẩm quyền xác nhận các trường hợp đủ điều kiện đương nhiên xóa án tích cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP nhưng Luật LLTP hiện hành chưa quy định cụ thể trình tự, thủ tục, thời gian và cơ chế phối hợp xác minh các trường hợp đương nhiên xóa án tích nên thực tiễn áp dụng chưa thống nhất, chặt chẽ. Bên cạnh đó, luật còn chưa có quy định cơ quan nào có trách nhiệm trong vấn đề đương nhiên xóa án tích đối với pháp nhân thương mại bị kết án.

Thứ hai, trách nhiệm của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP, trong đó có việc xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích của người bị kết án có thể gặp một số trường hợp khó khăn nhất định khi thực hiện đó là:

Luật LLTP có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2010 quy định Cơ sở dữ liệu LLTP được xây dựng và quản lý tại Trung tâm LLTP quốc gia thuộc Bộ Tư pháp và tại Sở Tư pháp chỉ thực hiện cập nhật những thông tin có sau ngày 01/7/2010, còn những thông tin có trước ngày 01/7/2010, Sở Tư pháp chỉ thực hiện cập nhật khi các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp. Do đó, thông tin LLTP về án tích trong cơ sở dữ liệu LLTP trên hệ thống LLTP chưa đầy đủ, hoàn thiện sẽ khó để thực hiện việc tra cứu thông tin LLTP nói chung và xác nhận điều kiện đương nhiên xóa án tích nói riêng. 

Hơn nữa, theo quy định Khoản 2 Điều 70 BLHS năm 2015 thì một trong những điều kiện được đương nhiên được xóa án tích là người bị kết án không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn theo quy định của BLHS năm 2015. Như vậy, để có thể xác định một người thực hiện hành vi phạm tội khi người đó bị khởi tố cho đến khi bị điều tra, truy tố, xét xử trên cơ sở dữ liệu LLTP là rất khó khăn vì cơ sở dữ liệu LLTP hiện nay không quản lý và lưu trữ các thông tin từ giai đoạn khởi tố mà chỉ lưu trữ, quản lý thông tin từ giai đoạn có bản án có hiệu lực pháp luật.

Từ một số vướng mắc, bất cập nêu trên, có thể thấy để bảo đảm thi hành hiệu quả hơn các quy định của BLHS năm 2015, cần khắc phục những nội dung như: Bổ sung, quy định về xóa án tích đối với pháp nhân thương mại phạm tội; hướng dẫn về trình tự, thủ tục, thời gian và cơ chế phối hợp xác minh các điều kiện đương nhiên xóa án tích; tăng cường hơn công tác cung cấp, tiếp nhận, thu thập thông tin LLTP để xây dựng cơ sở dữ liệu LLTP, bảo đảm cho việc cập nhật, tra cứu; ngoài ra cũng cần bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ liên quan đến công tác LLTP, đặc biệt là nghiệp vụ xác minh cho cán bộ và chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác LLTP, tạo thuận lợi cho cá nhân, cơ quan, tổ chức...

Xóa án tích nói chung và đương nhiên xóa án tích nói riêng là chế định có ý nghĩa quan trọng được BLHS quan tâm quy định trong hẳn một chương riêng, thể hiện tính nhân đạo sâu sắc, tạo điều kiện cho người phạm tội không bị mặc cảm bởi sự phân biệt đối xử trong xã hội sau khi chấp hành án. Bởi vậy, vấn đề này rất cần thiết phải được các cơ quan có thẩm quyền nêu cao tinh thần trách nhiệm trong thực tiễn triển khai thực hiện các quy định của pháp luật nhằm đảm bảo, tôn trọng quyền con người đối với những người bị kết án đủ điều kiện đương nhiên xóa tích./.

Ngọc Mai

Tòa án quân sự Khu vực 1 Quân khu 3

Thông báo