Một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo Bộ luật Hình sự năm 2015

Ngày đăng: 08:16 08/09/2019

Quy định về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt trong Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 vừa thể hiện tính nghiêm minh, nghiêm trị những kẻ chủ mưu, cầm đầu, chống đối, côn đồ; đồng thời ghi nhận chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác tội phạm; người lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người đồng phạm với vai trò giúp sức không đáng kể…

Chế định quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đã được ghi nhận trong các BLHS năm 1985, 1999; song chỉ đến BLHS năm 2015 chế định này mới quy định rõ ràng, cụ thể và theo hướng có lợi hơn cho người phạm tội; cụ thể tại Điều 54 BLHS năm 2015 quy định:

“1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.

3. Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.”

Quang cảnh một phiên xét xử tại Tòa án quân sự Khu vực 1 Quân khu 3.

Với quy định nêu trên ta thấy, so với các BLHS trước đây, Điều 54 của BLHS năm 2015 đã thiết kế nội dung điều luật làm 03 khoản; với ba quy định có tính pháp lý vừa mang yếu tố liên quan vừa mang yếu tố riêng biệt. Tại khoản 1 và khoản 3 Điều 54 BLHS năm 2015 có sự kế thừa nhưng đã sắp xếp, trình bày rõ ràng, cụ thể hơn.

Ngoài ra, BLHS năm 2015 không thay đổi nguyên tắc “Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật với điều kiện là khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ…”. Tuy nhiên, BLHS năm 2015 đã bổ sung một quy phạm mở cho Tòa án được ghi nhận ở khoản 2 đó là: “Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể”. 

Đây là quy định có lợi hơn cho người phạm tội và thể hiện tính nhân văn, tinh thần tiến bộ trong công cuộc lập pháp đối với lĩnh vực hình sự. Qua đó đã đảm bảo được tính khách quan và công bằng khi cá thể hóa hình phạt đối với từng bị cáo trong một vụ án, đã tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn xét xử của Tòa án đối với những trường hợp người phạm tội lần đầu là người giúp sức, có vai trò không đáng kể trong vụ án đồng phạm. Những người này theo quy định của các BLHS trước thì dù có xem xét, vận dụng các tình tiết giảm nhẹ, khoan hồng tối đa, Tòa án cũng chỉ được phép áp dụng hình phạt trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn khung hình phạt được áp dụng và như vậy là quá nghiêm khắc.

Tuy nhiên, thực tiễn nghiên cứu, áp dụng quy định tại Điều 54 của BLHS năm 2015 cũng cho thấy bộc lộ một số bất cập, vướng mắc, gây ra nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau, cụ thể như:

- Một làviệc áp dụng quy định tại khoản 2 là độc lập hay phải thỏa mãn điều kiện quy định tại khoản 1 điều 54 của BLHS năm 2015?

Vấn đề này trên thực tế vẫn tồn tại hai quan điểm khác nhau trong cách hiểu như sau:

Quan điểm thứ nhất: Quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 là hai trường hợp riêng biệt nên việc áp dụng mỗi khoản là tách biệt nhau. Khoản 1 là việc quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS. Để áp dụng khoản 2 thì chỉ cần có điều kiện: “người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể”, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung liền kề (Tức là không cần thêm điều kiện phải có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1).

Quan điểm thứ hai cho rằng: Khoản 2 Điều 54 được hiểu là trường hợp mở rộng của khoản 1 Điều 54. Do đó, khoản 2 được áp dụng trong trường hợp người phạm tội phải có đủ các điều kiện sau: (1) Khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật; (2) Người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.

Bởi vì điều kiện thứ nhất là điều kiện cơ bản để Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Từ đó, để xác định hình phạt dưới mức thấp nhất này có hay không nằm trong khung liền kề nhẹ hơn của điều luật là dựa vào điều kiện người phạm tội có phải phạm tội lần đầu và có vai trò giúp sức không đáng kể hay không.

Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ nhất, vì điều luật đã quy định thành hai khoản riêng như vậy nên đây là hai trường hợp áp dụng khác nhau. Hơn nữa, hiểu và áp dụng theo cách như vậy sẽ có phần có lợi hơn cho người phạm tội khi Tòa án quyết định hình phạt.  

- Hai làxác định thế nào là “vai trò không đáng kể trong vụ án đồng phạm” đối với người giúp sức?

BLHS năm 2015 mới chỉ có quy định về khái niệm “Người giúp sức” là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm. Tuy nhiên chưa có văn bản nào hướng dẫn để xác định “vai trò không đáng kể” của người giúp sức trong vụ án đồng phạm. Trong khi đó, đây là căn cứ quan trọng để Tòa án quyết định việc có cho người phạm tội được áp dụng một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn.

Chúng tôi cho rằng, để đưa ra một định nghĩa đầy đủ về “vai trò không đáng kể” là không dễ dàng. Do vậy, chỉ có thể dựa trên một số tiêu chí để xác định “vai trò không đáng kể” của người giúp sức trong vụ án đồng phạm một cách định tính như: Cần xem xét tính chất vụ án, đánh giá mức độ hành vi cụ thể của người đó trong toàn bộ vụ án; xác định vai trò của người giúp sức đó là thấp nhất trong những người đồng phạm; hành vi mà họ thực hiện không quyết liệt, không mong muốn hậu quả xảy ra... 

Ví dụ: A là quân nhân của một đơn vị Quân đội có hành vi chiếm đoạt 02 thùng vỏ đạn cũ của đơn vị đem bán. Khi ra đến gần cổng thì gặp quân nhân B. B hỏi A trong thùng có gì, A nói đây toàn là vỏ đạn cũ không còn sử dụng được nữa nên mang đi bán. A đưa 01 thùng nhờ B xách qua cổng đơn vị và sau đó A mang bán cho ông C ở một cửa hàng sắt vụn. Khi ông C đem số vỏ đạn ra sử dụng thì trong đó vẫn còn đạn chứa thuốc nổ nên đã phát nổ và làm ông C chết. Trong vụ án này, A và B được xác định là đồng phạm về tội chiếm đoạt vũ khí quân dụng quy định tại Điều 304 của BLHS. A là người thực hành, B là người giúp sức. Tuy nhiên, khi xem xét quyết định hình phạt đối với A và B, có 02 quan điểm như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Vai trò giúp sức của B trong vụ án này là rõ ràng. B biết nhưng vẫn giúp A thực hiện hành vi phạm tội, do đó vai trò của B là không thứ yếu nên phải quyết định hình phạt theo quy định, không thể áp dụng khoản 2 Điều 54 BLHS.

Quan điểm thứ hai cho rằng: B chỉ giúp A xách hộ số vỏ đạn qua cổng, không trực tiếp cùng A mang đi tiêu thụ nên vai trò của B trong vụ án này rất nhỏ, chỉ là thứ yếu. Vì vậy cần áp dụng khoản 2 Điều 54 BLHS để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung đối với B.

Qua vụ án nêu trên cho thấy, việc đánh giá vai trò của người giúp sức trong vụ án đồng phạm là thứ yếu và không đáng kể rất quan trọng để xem xét áp dụng khoản 2 Điều 54 BLHS cho phù hợp và đúng bản chất, thể hiện đúng quan điểm của nhà làm luật. Vì thế cần có hướng dẫn cụ thể để xác định “vai trò không đáng kể” của người giúp sức.

Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại Điều 54 của BLHS năm 2015 là một điểm mới được kế thừa, sửa đổi, bổ sung từ quy định của các BLHS trước. Mặc dù đã có sự thay đổi nhưng trong thực tiễn thi hành Điều 54 vẫn bộc lộ một số vướng mắc, gây khó khăn cho các chủ thể áp dụng. Do vậy, để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với trường hợp quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, các cơ quan có thẩm quyền cần hướng dẫn cụ thể hơn về một số nội dung còn tồn tại những ý kiến trái chiều và cách áp dụng khác nhau nêu trên./.

    Đỗ Ngọc Mai

Tòa án quân sự Khu vực 1 Quân khu 3

Thông báo